3:16 chiều - Thứ Sáu Tháng Một 19, 9257

Vai trò của Tăng Ni trẻ trong thời đại mới

Đúng như vậy, bất kỳ một tổ chức nào dù lớn hay nhỏ, thì yếu tố con người vẫn là yếu tố quan trọng nhất, để một xã hội phát triển về mọi mặt thì không thể thiếu như những tài năng trẻ.
Tục ngữ Việt Nam có câu: “Tre già măng mọc”.
Đúng như vậy, bất kỳ một tổ chức nào dù lớn hay nhỏ, thì yếu tố con người vẫn là yếu tố quan trọng nhất, để một xã hội phát triển về mọi mặt thì không thể thiếu như những tài năng trẻ. Cũng vậy, để ngôi nhà chánh pháp mãi vững bền, thì trên có chư vị cao Tăng thạc đức, các bậc Tôn túc khả kính, dưới không thể thiếu hàng ngũ kế thừa, đó là Tăng Ni trẻ. Vậy Tăng Ni trẻ chúng ta làm gì để khẳng định vai trò quan trọng đó của mình.
Trong đề tài này người viết xin trình bày qua bốn vấn đề:

Tục ngữ Việt Nam có câu: “Tre già măng mọc”.Đúng như vậy, bất kỳ một tổ chức nào dù lớn hay nhỏ, thì yếu tố con người vẫn là yếu tố quan trọng nhất, để một xã hội phát triển về mọi mặt thì không thể thiếu như những tài năng trẻ. Cũng vậy, để ngôi nhà chánh pháp mãi vững bền, thì trên có chư vị cao Tăng thạc đức, các bậc Tôn túc khả kính, dưới không thể thiếu hàng ngũ kế thừa, đó là Tăng Ni trẻ. Vậy Tăng Ni trẻ chúng ta làm gì để khẳng định vai trò quan trọng đó của mình.Trong đề tài này người viết xin trình bày qua bốn vấn đề:
1. Vai trò, vị trí của người xuất gia trong xã hội.
Chắc chắn trong chúng ta đây không ít lần đã gặp các câu hỏi: “Tăng Ni có ích gì cho xã hội hay không?”. Vì không thấy họ tham gia lao động sản xuất hay làm kinh tế… Điều này không phải bây giờ mới xảy ra mà ngay từ thời Đức Phật còn tại thế, Ngài cũng đã từng gặp câu hỏi này. Có một lần điền chủ Bharadvaja, đã đón và đặt câu hỏi với Đức Thế Tôn khi Ngài cùng Tăng đoàn trên đường du hóa ngang qua cánh đồng của ông: “Này Cù Đàm, chúng tôi là nông dân phải cày sâu cuốc bẩm, phải chân lấm tay bùn gieo trồng, bón phân, gặt hái…, mới có được gạo ăn. Còn các vị  không làm gì cả, không sản xuất gì hết mà vẫn ăn. Các vị không có ích gì cho cuộc đời này cả, các vị không cày, không cuốc, không gieo trồng, không bón phân, chăm sóc và gặt hái… (kinh Kasibhadvaja).
Đúng như vị điền chủ này nói, mỗi người trong xã hội đều có vị thế và trách nhiệm riêng của mình để lao động, sản xuất, nuôi sống bản thân, gia đình và góp phần xây dựng, phát triển xã hội, mỗi người đều có vai trò riêng. Vậy vai trò và vị thế của người xuất gia chúng ta là gì?
Đức Phật đã trả lời vị điền chủ: “Ta cũng là một người cày ruộng, Ta có đức tin là hạt giống, giới luật là mưa thấm nhuần, trí tuệ là cây cày, khiêm tốn là cán cày, tâm là dây cương dắt bò, niệm là cái roi để điều khiển bò. Như Lai sống với lục căn thu thúc và lời nói ăn uống vừa chừng, đó là pháp trừ cỏ dại. Như Lai thực hiện lằn cày bất tử, kéo cày xong thì không còn đau khổ”. Điền chủ nghe xong đảnh lễ và cúng dường Đức Phật.
Cũng vậy, người xuất gia chúng ta sống theo hạnh của Đức Phật, là người tình nguyện bỏ hết vinh hoa phú quý của thế gian, cả danh lợi địa vị cũng không ràng buộc ta, sống không gi đình, không vật sở hữu.
Như vậy, vị thế của người xuất gia hoàn toàn khác với thế gian, vượt ra ngoài địa vị quyền lợi xã hội. Từ vị thế đó người xuất gia chúng ta phải nỗ lực để hoàn thành sứ mạng cao cả, cũng chính là tâm nguyện “tự giác, giác tha”, trước tự giải thoát mình, sau là cứu vớt người. Vì rằng, ta không thể cho người cái mà mình không hề có.
Người xuất gia tâm luôn hoan hỷ, chánh niệm tỉnh giác, nghiêm trì giới luật. Với đời sống phạm hạnh như vậy, người xuất gia không gây khổ đau cho mình, cho người và mọi loài. Ngược lại, còn đem đến sự bình an, hạnh phúc cho cho tất cả. Đó là trách nhiệm lớn của người tu sĩ chúng ta.
Như vậy, nói một cách ước lệ thì chúng ta cũng cày, cuốc, gieo trồng, bỏ phân, chăm bón và gặt hái. Nhưng khác với người nông dân ở chỗ: “Hạt giống chúng ta là niềm tin, đất là chân tâm, cày là chánh niệm, dụng cụ là sự tinh tấn” và mùa màng chúng ta gặt hái được là sự hiểu biết và thương yêu. Đây có thể xem là một mùa bội thu, vì cuộc đời này không có niềm  tin, sự hiểu biết và lòng thương yêu thì chắc chắn sự sống không thể tồn tại.
2. Đạo đức và lối sống của Tăng Ni trẻ trong thời hiện đại.
Ngoài trọng trách “hành Như Lai sứ, tác Như Lai sự”, Tăng Ni trẻ chúng ta, còn có trách nhiệm chung đối với sự phát triển đất nước, xã hội khẳng định tinh thần “Phật pháp bất ly thế gian giác”. Nều như việc Tăng Ni trẻ đi học thế học thời gian trước đây luôn gây cho người đời sự ngạc nhiên, các vị Tôn túc, Thầy tổ lo lắng, thì ngày nay, hình ảnh Tăng Ni trẻ xuất hiện rất nhiều trong các trường Đại học, trong các buổi sinh hoạt xã hội, thậm chí họ còn là những sinh viên xuất sắc. Đây là điều đáng mừng vì Tăng Ni trẻ biết năng động hội nhập vào xã hội. Các vấn đề xã hội được Tăng Ni trẻ quan tâm, chủ động phát huy, tạo nguồn sinh khí mới, một cách nhìn mới trong môi trường giáo dục Phật giáo.
Tuy nhiên, bên cạnh những việc làm được đó, điều làm cho các bậc Tôn túc phải suy tư lo lắng nhiều là đạo đức, và lối sống của một số Tăng Ni trẻ trong thời đại hôm nay. Họ sống xa lạ với giá trị truyền thống mà chư Phật, chư Tổ bao đời truyền dạy. Thậm chí có nhiều Phật tử phản ảnh đã từng thấy không ít trường hợp màu áo “giải thoát” xuất hiện những nơi không nên xuất hiện, và họ không thể chấp nhận hình ảnh ấy.
Đau lòng thay, những khuôn mẫu truyền thống quý giá đã bị họ phá đổ. Tăng Ni trẻ chúng ta có thể sống với tinh thần nhập thế, hòa đồng với xã hội để đưa đạo vào đời. Nhưng hòa đồng không có nghĩa là “hòa tan”, để cuộc đời đồng hóa chúng ta. Chúng ta đừng vì một phút yếu lòng mà làm mất đi giá trị cao đẹp của một Thích tử.
Vì vậy, mỗi Tăng Ni trẻ chúng ta phải ý thức, điều chỉnh các hoạt động tu học của mình, làm thế nào để xứng đáng là hàng ngũ kế thừa sự nghiệp đạo pháp là bậc mô phạm cho đời.
3. Tăng Ni trẻ chuẩn bị gì cho con đường hoằng pháp tương lai.
Có khi nào chúng ta tự hỏi: “hành trang để Tăng Ni trẻ chúng ta bước vào con đường hoằng pháp, lợi lạc quần sanh là gì? Bằng cấp học vị thế gian ư?” Thưa không, những điều này chưa phải là cứu cánh của người xuất gia, người xuất gia trẻ trong thời đại này phải trang bị cho mình đức hạnh trang nghiêm. Vì rằng:

“Hương các loài hoa thơm,
Không bay ngược chiều gió.
Hương người đức hạnh đó,
Ngược gió khắp muôn phương.”

Đúng vậy, đức hạnh là một tính cách cao đẹp, không hề bị chi phối biến hoại dù thời gian vô cùng, không gian vô tận, là tấm gương sáng cho mọi người noi theo. Muốn có đức hạnh thì giới hạnh phải trang nghiêm, giới hạnh nghiêm túc thì đức hạnh sáng ngời.

 “Thân trang nghiêm giữ tròn giới hạnh,
Khẩu trang nghiêm lời nói sạch trong.
Ý trang nghiêm cõi lòng thanh tịnh,
Đó mới là chân thật xuất gia.”

Chỉ có giới luật mới tạo nên đức hạnh của người tu, mới xây dựng được một “Thiên nhơn chi đạo sư”, một Tăng Ni trẻ năng động nhưng tài đức toàn diện.
Trong xã hội tiến bộ này, Tăng Ni trẻ chúng ta phải có nền tảng giới luật vững chắc, còn phải mẫu mực về đạo đức, trình độ Phật pháp vững vàng. Song song bên cạnh đó cũng cần trau dồi kiến thức thế học, dù không phải cứu cánh nhưng là phương tiện cần thiết để phục vụ cho con đường hoằng dương chánh pháp và để ứng xử thỏa đáng với mọi căn cơ trình độ chúng sanh, nhất là trong giai đoạn này tầng lớp trí thức đến để học hỏi nghiên cứu phật pháp ngày càng nhiều. Nhưng chúng ta phải luôn tâm niệm rằng: “Kiến thức thế gian cần nhưng chưa đủ, nó không giúp chúng ta giải thoát khổ đau”. Chỉ khi nào chúng ta thực hành giáo huấn của Như Lai, khi đó ta mới có trí tuệ sáng suốt để thẩm định lại kiến thức nào của thế gian có thể sử dụng được.
Nói tóm lại, điều quan trọng nhất của người tu sĩ là tu, gạn lọc thân tâm, tấn tu Tam Vô Lậu Học. Như lời của một vị Giáo thọ sư đã dạy: “Chúng ta phải lấy danh từ “tu sĩ” trùm lên tất cả các sĩ khác, như Tiến sĩ, Thạc sĩ…, tất cả học vị, bằng cấp thế gian, được như vậy mới mong đem lại an lạc hạnh phúc cho chính mình và tha nhân.”

4.Nhiệm vụ hoằng pháp.

“Hoằng truyền chánh pháp, lợi lạc quần sanh, tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức”.

Đây là trách nhiệm và bổn phận chung của mỗi sứ giả Như Lai để báo ơn Phật trong muôn một.
Vậy Tăng Ni trẻ chúng ta làm cách nào để thực hiện bổn phận thiêng liêng cao đẹp đó, khi chúng ta vẫn còn là những học Tăng, học Ni đá cứng chân mềm? Hoằng pháp bằng cách nào? Làm thế nào để trở thành một vị pháp sư ngồi trên pháp tòa để giảng kinh thuyết pháp? Đây là một cách hoằng pháp thiết thực và lợi ích nhất, nhưng không phải ai cũng đủ trình độ và cơ duyên để làm được như vậy. Điều đó thấy rõ khi hằng năm Giáo hội đào tạo hàng trăm thậm chí cả ngàn Tăng Ni tốt nghiệp các lớp Giảng sư, Học viện, Cao đẳng…, nhưng ra làm Giảng sư thực sự được mấy vị? Nói vậy, không phải để chúng ta bi quan và cho rằng việc hoằng pháp chỉ dành cho các bậc Tôn túc, các vị tài năng còn mình thì vô can.
Con đường truyền thừa không nhất thiết là đợi đến khi làm Giảng sư, mà ngay trong cuộc sống hằng ngày, từ thân giáo, khẩu giáo, ý giáo. Chúng ta có thể đem đạo Phật đến cho mọi người bằng nhiều hình thức, nhất là trong thời đại hội nhập này, Tăng Ni trẻ tham gia hoạt động xã hội nhiều, có nhiều cơ hội tiếp xúc với tầng lớp tri thức trẻ, đây là đối tượng quan trọng nhất cho sự hưng vong của xã hội trong thời đại mà đạo đức con người ngày một suy đồi.
Một chướng duyên lớn cho con đường hoằng pháp của Tăng Ni trẻ là thường có tâm lý “không đất dụng võ”. Đây là một thực tế hay do chúng ta được tu học trong một môi trường quá thuận lợi về mọi phương diện, để rồi chúng ta học hết lớp này đến lớp khác, đến khi không còn gì để học thì chúng ta không biết làm gì cả. ai thắc mắc thì chúng ta trả lời: “không ai cho chúng tôi cơ hội phục vụ hay chúng tôi không có đất dụng võ”. Thực ra thì một số Tăng Ni trẻ chúng ta, có cả bản thân người viết là ngại, chúng ta ngại khó khăn và không có tinh thần “dấn thân”. Vẫn còn đó những vùng xa xôi hẻo lánh, nơi người dân không chỉ đói cơm ăn, áo mặc mà đói cả đời sống tinh thần hay nói rõ hơn là đói pháp.
Có một câu chuyện làm chúng tôi rất xúc động. Một dịp về vùng quê nghèo, nơi đó bà con kính tin Tam bảo và sinh hoạt gia đình Phật tử khá mạnh. Bác Huynh trưởng đã nói với con thế này: “Thưa Sư cô, chúng con luôn kính tin Tam bảo, nhưng ở nơi quê nghèo chúng con chỉ có nhị Bảo”. Tôi chưa kịp ngạc nhiên thì Bác nói tiếp: “Chúng con có Phật,  Pháp nhưng không có Tăng, mà khi không có Tăng thì không ai hướng dẫn chúng con tin và hiểu Phật đúng pháp, ở đây chúng con rất khát được nghe pháp. Chúng con chỉ sợ không có người hướng dẫn, chúng con mò mẫm e sai đường.” Tôi lặng cả người, có lẽ đây là điều chúng ta cần suy ngẫm. Nhưng cũng mừng là ngày càng có nhiều Tăng Ni trẻ đã nêu cao tinh thần “Nơi nào Phật pháp cần thì đến, không quản gian lao, không nài khó nhọc.” Mong rằng, tinh thần này được nhân rộng hơn nữa trong tầng lớp Tăng Ni trẻ đương đại. Vì Phật pháp cần lắm sức trẻ, sự nhiệt huyết và tinh thần vì đạo quên thân của chúng ta.
Một lần nữa, chúng ta cần khẳng định vai trò của Tăng Ni trẻ trong thời hiện đại, phải là một người Thầy mô phạm, có đầy đủ giới hạnh đạo đức của một bậc chân tu. Làm thế nào để “hương đức hạnh tỏa ngát muôn phương” khiến mọi người đều quy kính.

“Tâm thanh mang tấm y vàng
Giới nghi nghiêm khắc đáng hàng Sa Môn”.

Diệu Sơn

Hoa Sen Trắng (nguồn:hoalinhthoai.com)

Bài liên quan:

No tags for this post.

Related posts

Filed in: Phật giáo & Tuổi trẻ

Comments are closed.