4:57 chiều - Thứ Ba Tháng Một 16, 2018

Lạm bàn ” Chữ Tâm trong thư pháp “

Trong chuyến đi gặp gỡ các nhà thư pháp tại thành phố Hồ Chí Minh, tôi có may mắn được trao đổi trực tiếp với các nhà thư pháp về nhiều vấn đề xung quanh việc phát triển thư pháp Việt. Nhà nghiên cứu văn học, thư pháp Vũ Thụy Đăng Lan đã tặng tôi cuốn sách “Chữ tâm trong thư pháp” mà chị là tác giả.Tôi đã đọc nó khá kỹ với tâm trạng thích thú.
Có thể còn nhiều điều tôi chưa hiểu thấu đáo do trình độ tiếp thu có hạn. Tuy nhiên, khi kết hợp những điều đã  đọc được với những vấn đề trao đổi trong những cuộc giao lưu với các nhà thư pháp trong thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã hiểu sâu sắc hơn nhiều điều.Nhân dịp này, tôi muốn bày tỏ những suy nghĩ xung quanh chữ “Tâm” trên cơ sở những gì mà tôi đã “mắt thấy tai nghe” để quí vị tham khảo. Tôi chỉ muốn coi đây là những ý kiến cá nhân sau khi đọc cuốn sách và sau chuyến đi thực tế trong thành phố Hồ Chí Minh, tháng tư vừa qua, tuyệt nhiên không hề có ý phê bình tác phẩm.

Chữ Tâm

Tác giả Vũ Thụy Đăng Lan viết “…chữ Tâm luôn được tồn tại trong thư pháp, tách rời chữ Tâm  không còn là thư pháp nữa.” “…Viết thư pháp nếu bạn có nét chữ đẹp rồng bay phượng múa bạn sẽ chinh phục được lòng người. Còn việc  “giữ được lòng người hay không chính là cái tâm trong thư pháp.” Tác giả rất có lý nếu như hiểu chữ Tâm ở đây là “ChínhTâm”, nhưng nếu là “Tà Tâm” thì kết quả sẽ hoàn toàn ngược lại.Vì vậy khi đọc tác phẩm đó, tôi luôn hiểu rằng chữ Tâm mà tác giả nói đến luôn là Chính Tâm. Tôi cũng hiểu rằng trong tác phẩm của mình, tác giả chỉ muốn đề cập đến Chữ Tâm trong thư pháp. Chắc tác giả cũng như tôi đều hiểu rằng không chỉ trong thư pháp mới cần có chữ Tâm. Chữ Tâm luôn luôn cần trong bất kỳ hoạt động nào của con người, đúng như lời Phật Thích Ca dạy “Nhất thiết duy Tâm tạo”. Chỉ có điều chữ Tâm mà Đức Phật nói ở đây bao gồm cả Chính Tâm và Tà Tâm.Trong phong trào thư pháp Việt, không thiếu những dẫn chứng đáng buồn xung quanh chữ Tâm. Có không ít người luôn lấy chiêu bài “Chính Tâm” ngụy trang cho cái “Tà Tâm” của mình để hành động, nhằm đầu cơ trục  lợi. Trong thư pháp Việt cũng đã xuất hiện khá nhiều hiện tượng như vậy. Một trong những ví dụ đó là hiện tượng người ta dựng “Thư pháp Truyện Kiều và Tuyên ngôn Độc lập” thành “kỷ lục” thư pháp. Công phẫn trước những hành động tà tâm trong thư pháp, nhà thư pháp – hoạ sỹ Lê Quốc Việt đã viết một bức thư pháp treo giữa phố Ông Đồ xuân Canh Dần với dòng chữ “THƯ PHÁP CHÉM GIÓ LỪA ĐẢO”.

Bất kỳ con người bình thường nào cũng đều có tâm và ý thức được cái tâm đó. Tuy nhiên, cái Tâm không phải là “vô hướng” mà là “có hướng”. Cái Tâm xuất phát từ bản thân mình, nhưng hướng vào đâu mới là điều quan trọng. Một tác phẩm muốn cảm hóa được người thưởng thức chỉ khi được thực hiện bởi nhân tâm trong sáng – chính tâm. Những tác phẩm xuất phát từ tà tâm có thể nhất thời đánh lừa được công chúng, nhưng sớm muộn công chúng nhận ra. Khi các nhà thư pháp sử dụng đến tà tâm cũng là khi họ gặp bế tắc trong sáng tác, tức là họ bắt đầu đi vào ngõ cụt. Hậu quả của hành động đó sẽ dẫn họ đến thất bại. Thực tế đã có những người thất bại rồi đó!

Có một điều cần nhấn mạnh thêm: “chữ Tâm” chỉ là điều kiện CẦN mà chưa ĐỦ quyết định thành công trong sáng tác. Vậy,để thành công trong nghệ thuật, tác giả còn cần gì nữa. Đó là NĂNG LỰC của tác giả. Quá nhấn mạnh vào chữ Tâm có thể làm cho một số người nghĩ chỉ cần có tâm sẽ thành công và sinh ra ảo tưởng về khả năng của mình. Có “Tâm” rồi, để có thể thể hiện cái “Tâm” đó tác giả phải có năng lực. Có thể có những những người không được đào tạo một cách bài bản nhưng do có năng khiếu bẩm sinh nên vẫn thành công. Năng khiếu cũng chỉ là thuận lợi ban đầu, nếu không học tập và rèn luyện sẽ không thể đáp ứng được trình độ thưởng thức nghệ thuật ngày càng cao của công chúng, thậm chí một chút tài năng non nớt có thể dần dần bị thui chột. Như vậy, chữ Tâm không chỉ cần thiết khi trình hiện, sáng tác, mà nó luôn luôn cần thiết trong mọi hoạt đông học tập rèn luyện, ứng xử…Không coi trọng điều đó, người ta dễ bị lạc lối, phạm sai lầm và dẫn đến thất bại. Đúng như T. Man nói “Thiên tài có thể đặt nền móng, nhưng hoàn tất công việc phải  là lao động kiên nhẫn”, hay như Edison khẳng định “Thiên tài chỉ có một phần linh cảm, còn chính mươi chín phần trăm là mồ hôi và nước mắt”. Daniel Goleman cho rằng: “Người không phải là thánh, chẳng ai hoàn mỹ. Nhưng phải là người có căn bản. Cái gốc đó nằm ở tính cách, ở lương tri, và nếu có tài năng thì phải là tài năng có lương tri, là trí tuệ có tâm hồn”. Có lương tri, có tâm hồn sẽ làm con người sống và hành động có trách nhiêm hơn với cộng đồng.

Người có Chính Tâm phải là người có trách nhiệm

Ý thức trách nhiệm trong hoạt động thư pháp  thể hiện muôn màu muôn vẻ. Để cho xã hội ngày càng tốt đẹp, con người luôn phải có ý thức trách nhiệm trong mọi hành vi của mình. Cái Tâm trong sáng luôn luôn gắn liền với ý thức trách nhiệm. Không có ý thức trách nhiệm thì đừng bao giờ nói mình có cái Tâm trong sáng được.

Nhà thư pháp có thiện tâm chắc chắn không bao giờ cố tình đưa ra xã hội  những sản phẩm tùy tiện, cẩu thả và phản cảm.( Tôi nhấn mạnh chữ cố tình bởi vì có thể có những người trình làng những sản phẩm “giả cầy”, phản cảm…không phải do họ có tà tâm mà do “lực bất tòng tâm”). Đọc đến đây, có thể có người cho rằng “biết rồi ! khổ lắm! nói mãi!” và có thể “mắng” vào mặt tôi vì làm rác tai thiên hạ. Nhưng nếu người ta nhìn lại những gì mà một số nhà thư pháp đã trình hiện một cách phản cảm thì sẽ lượng thứ cho tôi. Hai trong trong số những “vết nhơ” điển hình của thư pháp Việt, đó là “kỷ lục”thư pháp “Truyện Kiều” và “Tuyên ngôn Độc lập”. Đó là những vết nhơ về “Lương tâm và Trách nhiệm” của người cầm bút. (xin xem bài viết “Kỷ lục Thư pháp và những sai lầm đáng buồn” đã đăng trên Chuyên San này trong mục Bàn tròn để hiểu rõ hơn). Đó cũng chính là sai lầmtrong việc công nhận kỷ lục ở Việt nam, sai lầm trong cách xử lý thông tin của một số cơ quan tuyên truyền như báo chí, đài truyền hình, …và…thật đau lòng khi những “vết nhơ” đó lại được phơi bày trong các bảo tàng, sách kỷ lục Việt nam. Lúc này, cũng như khi viết bài “Kỷ lục Thư pháp và những sai lầm đáng buồn”, tôi không có ý “vơ đũa cả nắm” tất cả những kỷ lục hiện nay mà nói đích danh hai kỷ lục nêu trên. Hai “kỷ lục” đó trái ngược hoàn toàn với Kỷ lục “Con đường gốm sứ đê sông Hồng” mới được công nhận và được ghi trong sách Guinness. Cái Tâm của những con người làm  nên kỷ lục Con đường gốm sứ thật là trong sáng. Chiêm ngưỡng kỷ lục đó ta thấy tự hào về thủ đô, về Việt nam, con người Việt Nam.

Lương tâm và Trách nhiệm của các nhà thư pháp không chỉ thể hiện khi trình hiện, sáng tác, mà còn phải được thể hiện trong mối quan hệ giữa các nhà thư pháp. Chữ Tâm giúp các nhà thư pháp gần nhau hơn, do đó có thể giúp đỡ nhau tốt hơn trong rèn luyện và sáng tác. Thực tế cho thấy không hoàn toàn như vậy. Tuy rằng có nhiều câu lạc bộ thư pháp được thành lập nhưng rất khó tập hợp được các nhà thư pháp có tuổi đã “thành danh” ngồi lại với nhau. Họ thường hoạt động độc lập, việc ai người ấy làm.Một số người cho rằng thư pháp là“cuộc chơi” và do đó không nên bàn luận, phê bình, góp ý gì cho mệt. Thực chất tình trạng này là gì? Có thể lý giải thế nào đây về tình trạng đó?! Có lẽ nào họ chưa thực sự tâm huyết với thư pháp? Có thể họ chưa thực sự tự tin vào chính mình? Cũng có thể họ quá tự tin nhưng lại e sợ một điều gì đó…có thể phá vỡ trạng thái ấy?! Trong dịp gặp gỡ, trao đổi với những người hoạt động thư pháp trong Thành phố Hồ Chí Minh, tôi phát hiện ra một điều: lớp những người trẻ tuổi yêu thư pháp đã phát hiện ra và đang thực sự lo lắng về tình trạng trên. Họ không vui khi cảm thấy các bậc tiền bối chẳng ai nói chuyện được với ai. Ý đồ thành lập một tổ chức HỘI THƯ PHÁP như các hội nghệ thuật khác chắc còn xa vời vợi! Việc chỉ tồn tại các câu lạc bộ mà không thể thành lập được hội chứng tỏ thư pháp nước nhà đang trong giai đoạn sơ khai,  hoạt động tự phát, manh mún.

Lương tâm và trách nhiệm của nhà thư pháp còn cần phải được thể hiện trong quan hệ với công chúng. Cần phải biết tôn trọng công chúng bởi vì nhờ công chúng mà ta tồn tại. Chớ nên “ném” bừa bãi những sản phẩm cẩu thả, dễ dãi ra công chúng trong bất kể trường hợp nào, dù đó là khi ta đang cho, tặng hay bán. Người có tâm không bao giờ nghĩ rằng ta đang ngồi trên “ban, phát” chữ cho mọi người, dù là người ta đến xin chữ. Người có tâm không bao giờ “nổi giận” khi có ai đó không thích và phê phán tác phẩm của mình. Để thực hiện được những điều đó, các nhà thư pháp không nên chủ quan với khả năng của mình. Nếu chỉ dựa vào số lượng tác phẩm đã bán, cho, tặng…, dù đó là số lượng lớn, mà cho rằng mình đã hơn người, đã đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật, thì đó là một sai lầm lớn. (Trong thực tế, loại “hàng chợ” thường bán được nhiều). Người có tâm bao giờ cũng mong muốn làm thế nào để nâng cao trình độ thưởng thức của công chúng. Vì vậy, họ luôn học hỏi và rèn luyện bút pháp của mình để cống hiến cho đời những tác phẩm ngày càng tốt đẹp hơn. Những người như vậy sẽ không bao giờ tự mãn, tự cao, tự đại, coi thường người khác. Những người như vậy rất dễ hợp tác với nhau, dễ “nói chuyện” với nhau, học hỏi lẫn nhau.

Khi nói đến chữ Tâm trong thư pháp, chắc ai cũng dễ dàng thừa nhận sự cần thiết của nó, nhưng nhìn vào những gì đang diễn ra trên cả hai miền sao thấy… buồn… làm vậy! Không biết có bao nhiêu nhà thư pháp thể hiện được chữ Tâm trong hoạt động của mình?!

Nếu chỉ đòi hỏi các nhà thư pháp có tâm trong sáng thì thật là bất công. Công chúng yêu thư pháp cũng cần phải có “Tâm”. Vậy, cái Tâm của công chúng yêu thư pháp thể hiện thế nào?

Nếu như các nhà thư pháp có tâm luôn cóý thức tôn trọng công chúng khi sáng tác, khi cho, tặng… sản phẩm của mình, thì công chúng cũng cần biết tôn trọng các tác giả và tác phẩm của họ. Sự tôn trọng lẫn nhau ở đây phải xuất phát từ thiện tâm. Có như vậy các nhà thư pháp mới không cẩu thả khi sáng tác, còn công chúng mới chân thành khi đón nhận tác phẩm của họ. Công chúng có tâm với thư pháp sẽ không bao giờ chấp nhận những “tác phẩm” cẩu thả, dễ dãi, phản cảm…được tung bừa bãi ra thị trườngvà cần phải “lên tiếng” phê phán. Chúng ta đang thiếu (đúng hơn là không có) các nhà phê bình thư pháp, do đó tất cả mọi người yêu thư pháp và có tâm cần phải quan tâm tới vấn đề này. Có một vài ý kiến sai lệch khi cho rằng khi phê bình người khác “…chí ít bạn phải ngang tầm với kẻ ấy.” Thậm chí khi bị phê bình có người nổi xung lên mắng lại “…ngươi là ai, đã hơn đời được chữ nào chưa, có giỏi trình hiện chữ ngươi viết cho ta xem ra sao mà dám chê chữ ta bần tiện , yếu đuối, kém cỏi. Ngươi đã bằng Nhan Lương, Văn Sú chưa, ngươi đã lập kỷ lục và phá kỷ lục chưa.”. Nếu các nhà thư pháp cứ đòi hỏi các nhà phê bình và công chúng phải có trình độ hơn mình mới được phê bình mình thì…sẽ không bao giờ có nhà phê bình nào hết, không bao giờ có thể góp ý cho nhau hết và công chúng phải im lặng trước những sản phẩm non kém, cẩu thả…được tung bừa bãi ra thị trường như hiện nay(!). Các nhà thư pháp nên nhớ rằng trong công chúng, còn có không ít người “khó tính”, trình độ cảm thụ thẩm mỹ của họ rất cao và luôn nhớ rằng công chúng yêu thư pháp có quyền được khen chê mọi sản phẩm của mình (một khi đã tung ra thị trường), còn tiếp nhận hay không những ý kiến đó là quyền của mình. Có điều, nhà thư pháp có tâm không bao giờ “nổi cáu” trước những lời phê bình đó.

Nhà thư pháp có tâm  là người học suốt đời

Có bạn hỏi tôi “ Đỉnh cao thư pháp Việt nam nằm ở đâu?”.  Tôi trả lời “Nó luôn nằm ở thì tương lai”. Có nhà thư pháp nào tự cho rằng mình đã đạt được đỉnh cao của nghệ thuật? Nếu có thì chắc rằng họ chẳng cần “học, rèn luyện” gì nữa! Tôi cho rằng chẳng ai nghĩ như vậy. Nhưng, người tự cho mình là “nhất thiên hạ” thì…có đấy! Họ không chấp nhận ai “dạy” họ cả. Họ nổi giận khi cảm thấy có ai đó “dạy” mình. Thực chất họ đang từ chối “sự học” người khác. Tính kiêu căng, ngạo mạn xuất phát từ đó. Họ có biết “kiêu ngạo là sự bắt đầu của mọi lỗi lầm” (?!). Nếu họ biết những tấm gương học tập, khổ luyện của các danh bút như Vương Hy Chi, Trương Chi, Thiền sư Thích Trí Vĩnh…, họ sẽ nghĩ khác. Trong khi thư pháp Việt còn đang trong giai đoạn sơ khai, chân đứng chưa vững mà đã cho rằng mình đã ở “đỉnh cao” rồi thì thật là…!!! Sau cuộc gặp gỡ các nhà thư pháp và những người yêu thư pháp Việt trong Thành phố Hồ Chí Minh, tôi nhận ra một điều: Lớp những người trẻ tuổi yêu thư pháp nung nấu một khao khát muốn liên kết các nhà thư pháp với nhau để giúp đỡ nhau  nâng cao trình độ và năng lực. Họ nhận ra những cái mạnh và cái yếu của các bậc tiền bối. Họ kỳ vọng rất nhiều và mong muốn  các bậc tiền bối sẽ là những tấm gương sáng, là những cái đích để noi theo. Nhưng…họ đã…rất buồn. Trước buổi nói chuyện tại Nhà văn hóa thanh niên, họ dặn tôi rất kỹ rằng chỉ nên nói những gì không “chạm” tới các vị tiền bối, họ bảo khó khăn lắm mới mời được các nhà thư pháp đã “thành danh” ngồi cùng một chỗ như thế này. Thời gian còn lại tôi đã tranh thủ gặp các bạn trẻ để nghe  và trao đổi những vấn đề cụ thể hơn về thư pháp Việt. Đặc biệt, tôi rất vui mừng nhận ra rằng các bạn trẻ không những có năng lực sáng tạo mà còn rất khát khao học hỏi và ý thức rất rõ trách nhiệm của mình đối với tương lai thư pháp Việt. Bằng cách ấy họ đã thể hiện “cái tâm” rất trong sáng, đáng để nhiều người noi theo.

Có lần tôi than phiền với một nghệ nhân chuyên sản xuất đồ thờ rằng tại sao toàn thấy bày bán hàng chợ, chẳng có một cái nào là “hàng kỹ” cả. Nghệ nhân đó trả lời “Hàng chợ mới bán chạy vì giá rẻ, hàng kỹ bán chậm lắm. Để sản xuất ra hàng kỹ, đòi hỏi tay nghề rất cao. Người làm ra nó phải được đào tạo bài bản, phải có trình độ cảm thụ thẩm mỹ cao, có tay nghề điêu luyện và đặc biệt phải thực sự có tâm huyết. Nhiều lúc tôi cũng muốn làm ra một tác phẩm thực thụ, nhưng vì“miếng cơm, manh áo” mà “phải nhắm mắt làm ngơ”. Tôi còn là nghệ nhân nữa đâu! Buồn lắm, nhưng biết làm sao ?!” Chuyện trò với ông, tôi hiểu ra nhiều điều. Tôi là người rất yêu thư pháp Việt và cũng đang luyện bút. Đôi khi thấy nhiều người hưởng ứng, tôi rất vui và thú thực,cũng có lúc cho rằng mình đã thành công. Lời tâm sự của ông khiến tôi giật mình. Ông đã cảnh báo tôi một điều: Chớ thấy nhiều người thích sản phẩm của mình mà cho rằng mình đã thành công. Cái số nhiều đó có thể nằm trong số những người vừa lòng với “hàng chợ”! Mặc dù quan tâm tới thư pháp Việt hơn nửa thế kỷ, tôi chưa bao giờ cho rằng mình là “nhà thư pháp”, dù chỉ trong ý nghĩ. Tôi cần phải học, học nhiều lắm. Trong dịp trao đổi với các nhà thư pháp trong thành phố Hồ Chí Minh vừa rồi, có nhà thư pháp hỏi tôi có hài  lòng không. Có lẽ họ ái ngại cho tôi khi thấy có vài ý kiến không đồng tình với tôi. Tuy nhiên, thực tâm, tôi rất hài lòng. Những ý kiến trao đổi, dù thuận chiều hay trái chiều đã giúp tôi hiểu rõ hơn thực trạng phong trào thư pháp Việt. Không hài lòng sao được khi tôi được may mắn trực tiếp trao đổi với những nhà thư pháp đã “thành danh” cũng như các bạn trẻ đầy nhiệt huyết và có năng lực sáng tạo, tận mắt xem các tác phẩm thư pháp của họ. Thú thực, nếu có gì đó không vui sau những cuộc gặp gỡ đó chinh là tôi cảm thấy thư pháp Việt hình như…đang bế tắc! (Tôi sẽ có một bài đề cập đến vấn đề này).

Nếu nhà thư pháp nào cũng thấy rằng học tập là công việc suốt đời họ sẵn sàng hợp tác với nhau và không bao giờ tự mãn, tự cao, tự đại. Điều đó giúp cho thư pháp Việt nhanh chóng vượt qua giai đoạn sơ khai để khẳng định mình, xứng đáng với lòng mong mỏi của công chúng yêu thư pháp.

Có lẽ còn quá nhiều điều cần nói xung quanh “CHỮ TÂM” nhưng bài viết đã dài rồi và e rằng các bậc tiền bối, các thầy, các bạn mệt đầu, nên tôi xin được dừng ở đây. Do trình độ có hạn nên không tránh khỏi những khiếm khuyết, tha thiết mong quí vị góp ý, chỉ bảo để tôi hiểu biết thêm.

P.Gs Phạm Đức Nhuận

Nguồn : thuhoavn.com

Bài liên quan:

No tags for this post.

Related posts

Filed in: Thư pháp

Comments are closed.