2:48 sáng - Thứ Ba Tháng Một 23, 2018

Lược Ý – Ý Niệm “Giải Thoát Môn” Nét Đẹp Kiến Trúc Tam Quan Phật Giáo Nhật Bản (Phần 2)

Biên tập: Thích Tâm Mãn – Thích Minh Thông

“Cổng chùa rộng mở” đó là tâm từ, tình thương vô hạn bình đẳng của Đức Phật đối với tất cả chúng sanh, không thân sơ, không giai cấp hay địa vị, không nghèo khó hay giàu sang, không kẻ trí người ngu, không phân biệt là người nam hay nữ, chư thiên hay quỷ thần, địa ngục hay súc sanh, Thanh Văn hay Bồ Tát.v.v…

Vì Đức Phật dạy tất cả đều là những vị Phật trong tương lai, tất cả đều có thể chứng ngôi vô thượng chánh đẳng chánh giác, trong Kinh Pháp Hoa dạy: “Đức Phật vì khai thị cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến, mà hiện ra trong đời”, và cánh cửa giải thoát thành Phật luôn rộng mở cho hết thảy chúng sanh, nếu như chúng sanh đó phát nguyện làm Phật, đó là ý nghĩa của “Cổng chùa rộng mở”.

“Cổng chùa rộng mở” cánh cửa Giải thoát của Phật luôn rộng mở với hết thảy chúng sanh, nhưng tùy theo nguyện lực và nghiệp lực của chúng sanh, cho nên có sự sai khác trong pháp môn cũng như hành trì, vì vậy chúng sanh khi bước vào cổng của Phật, điều trước tiên phải có tâm tùy duyên, tùy theo nguyện lực và nghiệp lực của mình, để chọn phương pháp cũng như pháp môn phù hợp với chính mình, để rồi tự mình tu chứng giải thoát trong pháp môn của mình đã chọn.

Đây là tình thương bình đẳng, tùy thuận chúng sanh của chư Phật, duyên theo tự tánh giác ngộ của chúng sanh, chỉ dạy pháp môn cũng như phương pháp để thành Phật và giải thoát tùy theo căn cơ Phật tánh của mỗi người. Cho nên đây là ý nghĩa tùy thuận chúng sanh “Cổng chùa rộng mở vậy”.

“Cổng chùa rộng mở” không dừng lại ở cổng, điện Phật, giảng đường và nhà trù, đến ngay cả Thiền đường là nơi Tăng sinh hoạt tu tập, nếu như có chúng sanh nào cần học hạnh của người xuất gia, thì không lý do nào mà chư Tăng không mở cho họ vào, còn nếu chỉ để tham quan, thì đây là chốn Thiền đường không tiện để người vào làm ồn náo, mất đi sự yên tịnh làm ảnh hưởng đến thời khóa tu trì của chúng Tăng, cho nên nơi này, mở trong đủ duyên và đóng lại khi duyên chưa đầy đủ.

Nếu như người học Phật chân chính thì sẽ không phiền, khi biết duyên mình chưa đủ, nên có cửa được vào, và có nơi không vào được, cũng chỉ là mình chưa chuẩn bị đầy đủ các duyên. Còn như là khách trần thì thầm hiểu rằng nơi nào cũng vậy, cũng có chổ vào được và cũng có chổ không tiện khi mình vào. Nếu theo duyên của hai tâm này vào chùa, thì bao nhiêu chướng ngại cũng như phiền phức đâu còn làm khó dể được ta. Đây chính là ý niệm “Cửa chùa rộng mở” không có một chướng duyên, không vướng một niệm phiền não, cổng chùa trong ta đã rộng mở.

“Cổng chùa rộng mở” nhưng đó là chỉ là cánh cổng sắc tướng của mỗi ngôi chùa mà thôi, điều quan trọng là khi chúng ta bước vào chùa, là để mở rộng cổng chùa của chính mình, cổng của Giới, cổng của Định, cổng của Huệ, vì ba cổng này chúng ta chưa từng mở ra, hoặc đã từng mở, nhưng gặp chướng duyên nên phải đóng lại. Vì vậy nay đủ duyên lành bước được vào cổng giải thoát, đi trên con đường thành Phật, biết được tham, sân, si, là nguyên nhân khóa chặt cánh cửa giải thoát của chính mình, vì vậy dùng chìa khóa Giới, Định, Huệ của cổng chùa sắc tướng, để mở cửa giải thoát chân tâm cho chính mình, đây cũng là ý nghĩa của “Cổng chùa rộng mở”.

Cổng chùa gọi theo danh từ trong Thiền Lâm là “Sơn môn” trong dân gian có câu: “những ngọn núi nổi tiếng trong thiên hạ, đều có Tăng trụ trì”, vì đa số chùa chiền của Phật Giáo Bắc Truyền nhất là các Thiền tự ngày xưa thường được xây dựng trên núi, nên cổng chùa được gọi sơn môn (cửa núi), danh xưng là Sơn Môn có ý nghĩa tượng trưng, khi bước vào cổng này thì mỗi bước chân của bạn đang tiến gần đến cội Bồ đề, xa dần đời thường trần thế, con đường này có thể dẫn dắt bạn thoát khỏi phàm trần đến nơi thần thánh, chuyển mê thành ngộ, lìa nhiễm ô, nhập vào thanh tịnh, thoát khỏi khổ đau, đắc được an lạc.

Sách Thích Thị Yếu Lãm quyển thượng trong phần”Trú Sứ” giải thích về cổng tam quan có chép: “tất cả chùa chiền đều có cổng Tam Quan, vì sao chỉ là một cổng nhưng lại có ba cửa? Theo Luận Phật Địa cho rằng: Cổng Tam Giải Thoát là cửa vào của đại cung điện, đại cung điện là ví dụ cho pháp Không, Niết Bàn vậy, Tam Giải Thoát Môn là Không môn, Vô tướng môn, Vô tác môn. Nay chùa chiền là nơi trì giới tu hành, chổ ở của người cầu đến Niết Bàn, cho nên phải từ cổng Tam Môn mà đi vào vậy”.

Cổng chùa thường thì có một cửa hoặc là ba cửa, nếu là cổng chỉ có một cửa, thường được gọi là “Bất nhị môn” với ý nghĩa muốn thành Phật giả thoát sanh tử chỉ có một con đường này, và chỉ chuyên nhất một đường, mới đạt được thanh tịnh giải thoát. Trong Kinh Lăng Nghiêm quyển thứ 4 có chép: “Nay ông chỉ nên thâm nhập vào một cửa, vào một cửa thì không còn vọng, thì sáu căn kia cũng nhất thời thanh tịnh…”.

Cổng chùa có ba cửa thì thường được gọi là “Tam Giải Thoát môn”, cánh cổng của ba con đường giải thoát. Ba điều giải thoát là gì, trong Luận Đại Trí Độ có chép: “Ví như Thành có ba cổng, người thì chỉ có một thân, không thể nào trong một lúc có thể đi vào được ba cổng thành, nếu như muốn vào thành, thì chỉ có thể đi vào từ một cổng. Thật tướng của các pháp là Niết Bàn Thành, thành này có ba cổng là “Không”, “Vô tướng”, “Vô tác”. Vì vậy ba cổng này không thể đồng một lúc có thể đi vào”. Luận ý này nhắc nhở muốn thành tựu được ba pháp “Không”, “Vô tướng”, “Vô tác” thì người tu tập cũng phải từng bước hành trì vậy. Cho nên cổng chùa là con đường đến thành Niết Bàn, nên cần phải đi cho đúng thứ lớp.

Kiến Trúc Sơn Môn được xây dựng trong Thiền Lâm và được ghi chép lại rất sớm và đến thời nhà Đường thì đã rất phổ biến hình như chùa nào khi xây dựng cũng có Sơn môn, “Nhất Môn” hay là “Tam Môn”, là một trong những kiến trúc chính trong các thể loại kiến trúc tòng lâm Phật Giáo Bắc Truyền, như Tam đường già lam, Ngũ đường Già Lam hay Thất đường già lam.

Sách Pháp Uyển Châu Lâm quyển thứ 39 đời Đường nói về chùa Hà Đông ở Kinh Châu có chép: “Chùa xây Tam Môn bảy gian hai từng mái..”. Trong sách Nhập Đường Cầu Pháp Tuần Lễ Hành Ký của vị sư Nhật hiệu là Viên Nhân có chép: “Ngài Phật Đà Ba Lợi là Tăng của nước Tây Vực, hai tay không đi đến sơn môn, ngài Văn Thù hiện tướng một ông già không cho vào Sơn Môn…”.

Đời nhà Đường Thiền Tông thịnh hành, bắt đầu xuất hiện các ngôi chùa thuộc tông phái Thiền, đa số các ngôi Thiền tự thường được xây dựng trên núi cao hoặc nơi rừng sâu, xa nơi phố thị ồn náo “Thâm sơn tàng cổ tự”, vì vậy cổng là kiến trúc đẩu tiên phải đi qua khi đến Thiền Lâm, cổng chùa thường là làm ngay đầu đường dẫn vào núi, chính vì vậy nên được gọi là Sơn Môn.

Trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy quyển nhất phần “Thánh Tiết” có chép: “trước khai đàn một ngày, vị sư phụ trách đàn tràng phải chuẩn bị bản thông bạch đem treo bên phải của cổng Tam Quan…”. Trong truyền thống xưng hô của Thiền Tông, vị sáng lập chùa được gọi là Khai sơn Tổ sư, chư vị Tôn đức của các chùa khác thì được gọi là Chư Sơn và Sơn môn là một danh từ phổ biến trong Tòng lâm, để chỉ cho một hệ phái hay một tông phong Thiền.

Kiến trúc cổng chùa ban đầu đơn sơ chỉ là bốn cột trụ, sau đó phát triển thành ba mái lợp trên đầu trụ, rồi dần biến thành kiến trúc của điện đường như một ngôi điện Phật cho nên cũng còn gọi là Sơn Môn Điện, trong Kiến trúc Sơn Môn Điện có ba loại: Loại thứ nhất Nhơn vương điện, cổng này thờ hai vị kim cang hoặc là hai vị Thiên vương, thể loại cổng này rất phổ biến thời Đường và hiện nay còn thấy rất nhiều ở các chùa Nhật Bản; Loại thứ hai là Thiên Vương Điện, thờ Bồ Tát Di Lặc và bốn vị Tứ Thiên Vương cổng này còn rất nhiều ở các chùa Trung Quốc; Loại cổng thứ ba có kiến trúc Lầu các, trên thờ Phật dưới để làm cổng đi vào, loại cổng này có kiến trúc rất độc đáo có thể nói là đại diện cho kiến trúc Sơn môn của chùa Nhật Bản.

Cổng chùa trong các kiến trúc chùa chiền, Tòng Lâm Phật Giáo Việt Nam, ngoài miền Bắc còn rất nhiều cổng chùa, theo thể loại Kiến Trúc Thiền Lâm Phật Giáo Bắc truyền Đời Đường, tiêu biểu nhất là cổng của chùa Keo – Thái Bình, cổng có treo chuông của chùa Bút Tháp, chùa Trăm Gian, và các tòa Thiêu hương của các chùa miền Bắc là vết tích của cổng Nhân Vương Điện còn lưu lại trong kiến trúc truyền thống chùa chiền miền Bắc, vì trong các nhà Thiêu hương đều có thờ hai Ông khuyến thiện trừng ác, đây là hai vị Nhân Vương được gọi theo tên dân gian của Phật Giáo Việt Nam.

Kiến trúc chùa chiền của miền Trung và miền Nam mới có khoảng hơn 300 năm lịch sử, do sự ngăn cách của thời Trịnh Nguyễn phân tranh, đồng thời một phần cũng do sự ảnh hưởng của Thiền Phái Lâm Tế và Tào Động vào thời kỳ Minh mạc Thanh sơ, được truyền vào miền Nam do Tổ sư Nguyên Thiều và các vị Tổ sư khác, cho nên kiến trúc chùa chiền miền Nam, có sự lược giản trong xây dựng kiến trúc, và phong cách kiến trúc Tòng lâm của Phật Giáo miền Phúc Kiến và Quảng Đông có ảnh hưởng rất lớn trong chùa chiền của miền Trung và Nam.

Kiến trúc chùa chiền Phật Giáo miền Nam chú trọng xây dựng Chánh Điện hơn là những công trình khác, cho nên cổng chùa không còn vị trí quan trọng trong trục kiến trúc chính, vì vậy chùa chiền Phật Giáo miền Nam không có những cổng chùa to lớn như ở ngoài Bắc, chỉ duy nhất có cổng chùa Thiên Mụ ở Huế là có cổng chùa trang nghiêm nhất, còn tất cả các cổng chùa, của những ngôi chùa khác ở miền trong, đều không được to lớn, chỉ có hình dáng tượng trưng, đơn giản. Những cổng chùa có hình dáng kiến trúc bề thế trang nghiêm như trong hình thể kiến trúc truyền thống vốn có của kiến trúc này, thì không được thấy nhiều lắm.

Kiến trúc cổng Tam Quan của tự viện Phật Giáo Nhật Bản là một trong những kiến trúc cổng chùa Thiền Tông Phật Giáo Bắc Truyền đời Đường còn lại trên thế giới. Kiến Trúc Phật Giáo đời Đường là đỉnh cao của Nghệ thuật kiến trúc tôn giáo nói chung, và Phật Giáo Bắc Truyền nói riêng. Thể loại kiến trúc này ảnh hưởng hầu hết đến các nền kiến trúc cổ của các nước Đông Phương có Phật Giáo Bắc Truyền lưu hành, như Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Tây Tạng.v.v…

Tất cả những nước có Phật Giáo Bắc Truyền đều có kiến trúc chùa chiền, theo thể loại kiến trúc đời Đường, nhưng trãi qua sự phát triển cũng như tàn phá của chiến tranh và thiên nhiên, cho nên thể loại kiến trúc này hầu như còn rất ít, duy chỉ có Nhật Bản là nước kế thừa và bảo tồn được nhiều nhất, cũng như nguyên thủy nhất của kiến trúc Thiền lâm Phật Giáo đời Đường, và cổng Tam quan là một trong những mô hình kiến trúc quan trọng, tạo nên phong cách kiến trúc Thiền lâm của Phật Giáo Bắc Truyền.

nguồn: http://chuaminhthanh.com

Bài liên quan:

No tags for this post.

Related posts

Filed in: Kiến trúc

Comments are closed.