3:16 chiều - Chủ Nhật Tháng Một 19, 9062

Thầy và tôi (Nguyễn Hữu Huấn)

Thời gian mới định cư tại Đức vào đầu năm 1980, tôi đã nghe nói về một niệm Phật Đường Viên Giác với tạp chí Viên Giác và một vị Sư có tên Thích Như Điển tại Hannover. Nghe thì nghe nhưng chỉ là để đó thôi mà không một chút quan tâm vì nghĩ rằng, người Việt ở đâu mà chẳng có Cha có Cụ, có Sư có Thầy, có Nhà Thờ, có Chùa Chiền. Hơn nữa, tôi lại là một tín đồ Công Giáo, được giáo huấn dưỡng nuôi trong khuôn khổ và đức tin của Giáo Hội Công Giáo, thậm chí còn đi tu với ước vọng mình sẽ trở thành một Linh Mục. Tôi đã có những tháng năm dài trong tu viện Công Giáo và Chúa đã không chọn tôi vì tôi không hội đủ điều kiện. Ước mong không thành đã đưa tôi qua một bước ngoặc quan trọng trong đời. Không được làm „Cha nhà thờ“ tôi đã trở thành…“Bố bầy trẻ“ và bây giờ còn lên chức „Ông của đám cháu nội ngoại“. Bên Công Giáo gọi tôi là „người tu xuất“, các tín đồ Phật Giáo gọi tôi là „kẻ hoàn tục“. Cho dù „tu xuất“ hay „hoàn tục“ gì gì đó, thì tôi cũng phải cất bước „đi vào Đời“ để mong „mang Đạo vào Đời“ !

 

Khoảng năm 1982 các Phật Tử tại Hamburg rầm rộ kháo nhau đi nghe Thầy Thích Như Điển lần đầu tiên đến thuyết pháp. Bạn bè rủ tôi đi nghe, tôi cũng đến nghe chỉ vì… tò mò. Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi vào Chùa nghe một ông Thầy Phật Giáo thuyết pháp và tôi đã nhìn thấy Thầy Thích Như Điển bằng xương bằng thịt. Thầy ngồi trên bàn phía trước, tôi – một tín hữu Công Giáo – ngồi xa xa mãi tận hàng ghế sau cùng. Phải nói thật lòng, lúc đó Thầy nói Thầy nghe, tôi chẳng biết gì, chỉ như… “nước đổ đầu vịt“, lời hay ý đẹp của Thầy lọt vào lỗ tai này rồi theo lỗ tai kia chảy ra ngoài. Lại còn thêm những danh từ Phật Giáo đối với tôi rất lạ, nào là „mùa An Cư Kiết Hạ“ là mùa gì ? Cái gì là „Đàn Na Tín Thí“, là „Cúng dường trai tăng“ ? Thế nào là „thuận thế vô thường, có có không không“ ? Ở đâu là „thế giới Tịnh Độ“ ? Tại sao các Thầy Phật Giáo đều mang chung cùng một họ „Thích“ ? Tôi ngồi nghe mà cứ liên tưởng đến những cuốn phim bộ kiếm hiệp của Tàu. Rốt cuộc tôi chẳng thu thập được gì. Ra về, tôi chỉ có một cảm nhận chung kết là: tuy mỗi Đạo có một con đường khác nhau, một Giáo Lý khác nhau, nhưng trên nguyên tắc đều có chung một niềm tin hướng thượng, đều khuyên con người làm điều thiện, lánh điều dữ và phải biết tích đức tu thân, biết yêu thương đồng loại, thể hiện bác ái vị tha và phài có bổn phận đấu tranh cho Tự Do và Nhân Quyền, Nhân Phẩm của con người.

 

Cũng trong thời gian này tôi được biết Thầy Thích Như Điển trước khi định cư tại Đức năm 1977, cũng đã từng du học bên Nhật từ năm 1972. Tôi có người em (MVH) là em ruột của ông anh rể cũng đi du học bên Nhật vào năm này. Hồi đó tôi còn là một sĩ quan Không Quân nhỏ bé đồn trú tại phi trường Đà Nẵng về phép Sài Gòn đúng vào dịp gia đình ông anh rể tiễn đưa chú em ra phi trường Tân Sơn Nhất đi Nhật du học. Vì muốn „lấy le“ với chú em, tôi giành lái xe đưa chú ra phi trường và còn hứa đưa ra đến tận cửa máy bay, khỏi phải chen chúc chờ đợi xếp hàng. Sau thời gian làm thủ tục, tôi bỗng thấy một nhóm người tụ tập trong phòng chờ đợi, trong đó có mấy Thầy mặc áo choàng nâu. Hỏi ra mới biết có Thầy cũng đi du học bên Nhật, mà mãi sau này khi qua Úc gặp lại chú em, tôi mới biết người đi du học hôm đó chính là Thầy Thích Như Điển. Tôi đòi chú em cho tôi tấm hình chụp chung hôm ấy để biết „dung nhan“ của Thầy năm đó ra sao, tiếc thay chú đã bị thất lạc nhiều Album hình ảnh khi dọn nhà từ Nhật qua Úc làm việc, nếu không tôi đã tặng Thầy làm kỷ niệm. Hồi tưởng lại, tôi nhớ không thấy có Thầy nào trắng trẻo hồng hào phương phi trong ngày hôm ấy như Thầy Thích Như Điển hôm nay.

 

Cứ coi như đó là lần đầu tiên hội ngộ giữa Thầy và tôi, cuộc hội ngộ bất ngờ và thật vô tình, không ai biết ai, để rồi đường tu hành của Thầy, Thầy theo đuổi; đường đời chiến binh phiêu bạt của tôi, tôi đi, qua bao đổi thay với nhiều thăng trầm trong cuộc sống Đạo của Thầy và cuộc sống đời của tôi, tôi gặp lại Thầy trên mảnh đất tạm dung này. Tôi nghĩ đó cũng „không ngoài Thánh Ý Chúa định“, và nói theo chữ nhà Phật mà tôi học được, thì đó chính là „nhân duyên“ của một con người với một con người. Mà đúng là „nhân duyên“ thật, vì trong 8 năm đồn trú tại phi trường Đà Nẵng, hầu như lần nào có dịp bay ra Huế tôi cũng đến Chùa Thiên Mụ. Tôi cũng đã hơn một lần ghé qua phố cổ Hội An ăn Cao Lầu hay tô mì Quảng, uống ly Cà Phê Số Một, rồi rất tình cờ ghé qua ngôi Chùa Viên Giác, tiền thân là Cẩm Lý Tự, tọa lạc trên đường Huỳnh Thúc Kháng cũ, nay là đường Hùng Vương, huyện Cẩm Phô, phủ Điện Bàn, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam. Ngôi Chùa cổ kính êm đềm dưới bóng mát hai cây đa cổ thụ, nơi được coi là „cái nôi“ của các cuộc đấu tranh đòi Tự Do Tôn Giáo và độc lập đất nước, và đây cũng là nơi „chú Điển“ vạm vỡ ngày xưa đã ngày ngày gập lưng quét lá đa và miệt mài ngồi „xay đậu hũ“. Tôi cứ thắc mắc mãi tại sao rất nhiều Chùa Miếu đều có những cây đa được trồng quanh, hay là các Phật tử cứ phải tìm đến nơi nào có những cây đa mới dựng Chùa ? Tôi sẽ hỏi Thầy sau này.

s69-000

 

 

Chùa Viên Giác tại Hội An, Quảng Nam ngày xưa

Tôi làm việc cộng đồng nên đi đây đi đó cũng nhiều, nhất là thời gian tình nguyện trên tàu Cap Anamur cứu người vượt biển. Trong một chương trình kêu gọi đóng góp cho con tàu nhân đạo này vào đầu thập niên 80, tôi đánh bạo đến Chùa Viên Giác tại Hannover, Đức Quốc và đây là lần đầu tiên tôi hội ngộ trực tiếp với Thầy Thích Như Điển, lúc đó còn là vị trụ trì Chùa. Thầy nói giọng Quảng Nam, nhưng theo tôi giọng của Thầy hình như đã bị… mất gốc ! Tám năm chinh chiến dài theo năm tỉnh miền Trung đã cho tôi nhận xét đó. Theo tôi, giọng nói Quảng Nam khó nghe hơn Quảng Trị, Thừa Thiên nhưng lại dễ hiểu hơn Quảng Tín, Quảng Ngãi, nói câu „cái lốp xe đạp“ nghe sao lại thành „cái láp xe độp“, cho dù cả năm tỉnh nối tiếp liền nhau và cùng mang một chữ Quảng. (không biết nhận xét của tôi đúng hay sai ?). Người miền Trung, nếu đã vào Nam lập nghiệp hay học hành khoảng một năm trở lên, thế nào cũng bị giọng miền Nam… pha tiếng, không ít thì nhiều. Tôi nghĩ giọng nói… “lai lai“ của Thầy hiện nay là hậu quả của hơn hai năm trung học tại Sài Gòn, hơn năm năm du học bên Nhật và hàng mấy chục năm hành Đạo trên xứ Đức cho đến ngày nay. Thầy hỏi tôi ngay về ông tiến sĩ Rupert Neudeck, người sáng lập Ủy ban Cap Anamur. Thầy hỏi thăm về chương trình đóng góp cứu người vượt biển của con tàu nhân đạo Cap Anamur. Thầy nói việc đóng góp hỗ trợ là nhiệm vụ và bổn phận của người tỵ nạn Việt Nam và sẵn sàng ủng hộ cũng như kêu gọi các Phật tử. Tôi chưa kịp cám ơn tấm lòng của Thầy thì Thầy lại ra lời cám ơn tôi trước. Tôi đã rất ngỡ ngàng và ngượng ngùng vì lời cám ơn này – mình đi năn nỉ kêu gọi… xin tiền người ta, mà người ta lại quay lại… cám ơn mình ? Thầy nhỏ nhẹ bảo tôi :

– Âu cũng là „nhân duyên“ đó anh Huấn à ! Phật đã đưa đường dẫn lối anh đến Chùa gặp tôi, nhờ đó tôi và các Phật tử mới có dịp đền ơn người cứu mạng và thể hiện lòng từ bi của nhà Phật, vì thế tôi phải cám ơn anh là đúng rồi chứ !

Trên đường về tôi suy nghĩ mãi về câu nói này và từ đó có những thiện cảm dấy lên trong tôi và ngày càng cảm thấy mình gần gũi với Thầy hơn qua những liên lạc sau này.

 

s69-001

Trên sân Chùa Viên Giác, Hannover, 2008

Có một lần tôi khoe đám bạn bè một tấm hình tôi đứng ngay cạnh Thầy Thích Như Điển trên sân Chùa Viên Giác. Một chị -vợ người bạn tôi- trố mắt nhìn tôi ngạc nhiên rồi nói:

– Trời ! Sao anh có phước được đứng chụp hình ngay bên cạnh với Thầy vậy ?

Tôi ngạc nhiên không kém, trả lời:

– Cái gì mà phước với đức hả Trời ! Ai muốn chụp với ổng mà không được, bà này nói chi nghe ngộ quá !

Chị tiếp lời với nét mặt nghiêm trang và chân thành :

– Anh nói chi lạ vậy, tụi tui đến Chùa hoài mà chỉ dám nhìn Thầy xa xa thôi chứ ai mà dám đến gần. Ai cho phép ? Nói thiệt nha, anh có phước lắm mới đến được gần Thầy. Bữa nào có dịp anh thử xin Thầy cho tụi tui chụp chung một tấm hình tui treo trong phòng khách được không ?

 

s69-002

Thầy Thích Như Điển và Thầy Hà Đậu Đồng cạnh tượng đài tỵ nạn cảng Hamburg, 12.9.2009

Tôi không có cùng lối suy nghĩ như chị nói với tôi, nhưng tôi tin là chị thành thật với trọn tấm lòng tôn kính một vị Sư Tăng. Tôi vẫn thấy những Phật tử khi gặp Thầy Thích Như Điển đều cung kính chắp hai bàn tay trước ngực, cúi đầu, gập lưng xá Thầy, miệng niệm „Nam Mô A Di Đà Phật“ hay „Bẩm Thầy“…. Các tín hữu theo đạo Công Giáo như tôi cũng đều tôn kính các vị Linh Mục như vậy. Chúng tôi gọi các vị Linh Mục là Cha. Một lời thưa Cha, hai lời cũng bẩm Cha, mà có khi còn hơn bên Phật Giáo một bực, vì các tín hữu Công Giáo còn kính trọng luôn cả ông bà thân sinh của một vị Linh Mục, nhiều khi còn hơn cả chính Linh Mục. Họ gọi là „Ông Bà Cố của Cha“ chứ không dám gọi là „ông bà thân sinh ra Cha“ và trong những vùng thôn quê, „Ông Bà Cố của Cha“ luôn được sắp xếp ngồi chiếu trên và được cả làng tôn kính… Người Việt Nam kính trọng các bậc tu hành như thế đó. Tôi nghĩ rằng sự tôn kính này xuất phát từ niềm tin mãnh liệt và tuyệt đối vào một Đấng Linh Thiêng mà chúng ta nên gìn giữ. Nhưng đó cũng là ngọn lửa vô tình làm dấy lên lòng tự kiêu tự đại, nhen nhúm căn bệnh tự mãn, coi thường giáo dân tín đồ, mà một số các vị tu sĩ Công Giáo cũng như Phật Giáo đôi khi vấp ngã. Riêng với tôi, Thầy Thích Như Điển không hề vướng bận với cái hệ lụy ấy, vì qua những lần chuyện trò hay bàn bạc với Thầy vấn đề gì, từ cá nhân hay chốn đông người, thì tôi lại là đứa nói nhiều hơn Thầy, trong khi Thầy chỉ ngồi lắng nghe, đôi khi nhỏ nhẹ đưa ra vài lời khuyên hay đề nghị. Tôi càng quý mến và kính trọng Thầy hơn.

 

Vợ tôi có một bà cô ruột, ông dượng là cựu Trung Tá phi công. Cả gia đình hiện định cư tại San Jose và rất sùng đạo Phật. Lần nào gọi điện thoại thăm vợ chồng tôi cũng đều nhắc đến Thầy Thích Như Điển một cách cung

kính. Tôi nghe nhưng không nói gì. Có lần bà cô hỏi vợ tôi:

– Tụi con bên đó có biết Thầy Thích Như Điển không? Thầy ở bên Đức đó, có gần chỗ tụi con không? Cô dượng mới đi nghe Thầy thuyết pháp nè. Cả ngàn Phật tử đến nghe đó tụi con.

Vợ tôi nhanh nhẩu:

– Dạ! Dạ! Vợ chồng con có quen biết Thầy mà… Bữa nào con gởi hình chụp với Thầy cho cô dượng coi.

Giọng bà cô bỗng trở nên nghiêm nghị hơn:

– Tụi con có phước lắm đó, gởi cho cô dượng xem đi! Bên này cô dượng chỉ đứng xa xa thôi đâu có chụp ảnh được với Thầy.

Lại thêm một lần tôi được nghe mình… có phước. Bản tính phá phách chọc ghẹo trong tôi bỗng nổi lên, để rồi một hôm lợi dụng lúc vợ tôi vắng nhà đi chợ, tôi gọi điện cho bà cô, nhưng cậu con rể lại nhấc máy. Tôi hỏi:

– Má mày có nhà không ? Có Thầy Thích Như Điển muốn nói chuyện nè !

Cậu em hỏi lại:

– Ai? Anh nói ai? Thầy Thích Như Điển hả? Thiệt không? Trời đất !

– Mau lên, kêu má mày đi, gấp gấp… kẻo Thầy chờ.

– Em kêu má liền!… Má ơi! Má ơi! Xuống lẹ lên ! Có Thầy Thích Như Điển bên Đức nói chuyện nè !

Tôi nghe có tiếng chân bước vội xuống cầu thang, lại có tiếng „rầm rầm“ vang lên như có người bị ngã, rồi nghe tiếng bà cô run rẩy hổn hển đứt quãng vừa nói vừa thở:

– Nam Mô… Nam Mô… Bẩm Thầy, bẩm Thầy…

Đến đây tôi linh tính có điều gì bất ổn và… quá lố mất rồi, nên vội vàng bào chữa:

– Cô ơi! Con nè, không có Thầy nào hết trơn, con nè…

Như lấy lại được bình tĩnh, bà cô quát:

– Thằng Huấn đó hả? Sao con dám… con dám…

Cô im bặt, không thèm nói thêm một lời, bỏ luôn máy lại cho cậu con rể:

– Anh Huấn à, anh làm má hết hồn đó. Tại anh nói có Thầy Thích Như Điển gọi nên bả cuống quýt chạy cầu thang xuống té trật xương luôn rồi.

s69-004

Đôi song ca: SH Hà Đậu Đồng
và Thầy Thích Như Điển

Tôi hối hận việc tôi đã làm. Bà cô vợ giận tôi gần một năm không thèm nói chuyện, còn bà vợ tôi sau khi nghe bà cô kể lại cũng tặng cho tôi một… bài học lễ độ. Nhưng ngược lại, cũng nhờ đó mà tôi đã nhận thức thêm được rằng, sự kính trọng của các Phật tử không những chỉ riêng trên nước Đức mà cả trên toàn thế giới đối với Thầy Thích Như Điển không phải là điều tự nhiên mà có.

Thầy đã đi vào lòng người qua tư cách và đức độ của mình, qua cách sống, cách hành đạo và cách đối xử với đời.

Trong một lễ hội nào đó vào thập niên 90 mà tôi không nhớ rõ, tôi lại có dịp ghé Chùa Viên Giác. Hình như lễ hội nào do Chùa Viên Giác tổ chức cũng đông người. Tôi bỗng thấy Thầy Thích Như Điển đang tản bộ chuyện trò tươi cười một cách thân mật với một người đàn ông lớn tuổi, mặc áo choàng đen, cổ áo viền trắng. Nhìn kỹ hóa ra là Sư Huynh Công Giáo Hà Đậu Đồng, người mà tôi hân hạnh quen biết từ những tháng năm tôi mới qua Đức định cư. Thầy Hà Đậu Đồng là một tu sĩ Tuyên úy Công Giáo thuộc một tu viện trong Giáo phận Münster, năm nay (2014) đã 77 tuổi, hơn Thầy Thích Như Điển 12 tuổi. Thầy cũng du học bên Nhật trước khi qua Đức như Thầy Thích Như Điển. Điều ngạc nhiên không những đối với tôi mà còn đối với rất nhiều người, là hai vị tu sĩ của hai tôn giáo lớn -một Chúa một Phật- lại là đôi bạn chí thân lâu đời, còn hơn anh em ruột thịt. Những dịp lễ lạc quan trọng của Chùa, Thầy Điển đều mời Thầy Đồng đến tham dự. „Đôi song ca“ này chính là một kết tinh kiểu mẫu, tuyệt diệu, sáng ngời và hiếm có của sự „hòa đồng tôn giáo“, vượt ra khỏi mọi biên giới khép kín, không đắn đo câu nệ, luôn chia sẽ ngọt bùi và nhất là vẫn tôn kính lẫn nhau. Thầy Đồng nắn nót làm thơ tặng Thầy Điển, Thầy Điển mượn lời ca tiếng nhạc biếu Thầy Đồng.

 

s69-003

Anh Phù Vân, Thầy Thích Như Điển, Thầy Hà Đậu Đồng và tôi

Tôi còn nhớ vào năm 2008 các Phật tử làm lễ lớn trong Chùa Viên Giác mừng sinh nhật thứ 60 của Thầy Thích Như Điển và tôi cũng hân hạnh được tham dự. Khi anh xướng ngôn viên điều khiển chương trình mời Thầy Hà Đậu Đồng lên sân khấu phát biểu đôi lời, Thầy Hà Đậu Đồng chưa kịp đứng lên, thì tôi thấy Thầy Thích Như Điển vội vàng đứng lên trước, nhẹ nghiêng người qua Thầy Đồng, khẽ cúi đầu đưa bàn tay trịnh trọng mời và hướng dẫn Thầy Hà Đậu Đồng lên tận sân khấu, sau đó mới trở về lại chỗ ngồi của mình. Một cử chỉ tôi chưa từng thấy trong các đại hội Đạo cũng như Đời mà tôi đã tham dự từ trước đến nay. Cử chỉ kính trọng, cung cách xã giao, sự khéo léo tế nhị và khiêm nhường đó đã làm tôi khâm phục Thầy Thích Như Điển không ít.

Sự khiêm nhường và biết ơn của Thầy còn được thấy rõ hơn trong ngày hôm ấy, khi Thầy đứng trên sân khấu trịnh trọng vinh danh và tỏ lòng cung kính cám ơn cô giáo Huỳnh Thị Thúy Lan đang ngồi phía dưới, là cô giáo môn vạn vật trong những năm 67/68 Thầy đang học chữ trong trường trung học Bồ Đề, Hội An. Thầy nói :

– Xin cám ơn công lao giáo dục của cô, nếu không có cô ngày đó, chắc gì tôi đã có được những thành quả như ngày hôm nay.

 

s69-005

Thầy Thích Như Điển và Ts. R. Neudeck ngày

khánh thành tượng đài tỵ nạn cảng Hamburg, 9.2009

 

Tôi lại càng khâm phục Thầy hơn nữa trong một lần trước đó rất lâu, tôi lái xe chở ông tiến sĩ Rupert Neudeck đến thăm viếng Chùa Viên Giác và nói về chương trình cứu vớt thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam, theo lời mời của Thầy Thích Như Điển. Tiếc thay vào giờ chót Ts. Neudeck không đến được vì công việc bất khả kháng, nên tôi đến một mình. Tôi trình bày với Thầy, nhưng Thầy khuyên tôi phải thay mặt Ông nói chuyện với các Phật tử vì họ đang tụ tập đông đảo trong hội trường. Tôi nghĩ mình cũng có phần trách nhiệm nên miễn cưỡng nhận lời. Thầy cầm Micro giành nhiệm vụ của MC để tự mình giới thiệu tôi với cử tọa. Sau hơn 20 phút khi vừa quay lưng bước xuống, tôi giật mình khi thấy Thầy vẫn còn đứng ngay sau lưng tôi trong suốt thời gian dài tôi nói chuyện. Tại sao Thầy làm như thế ? Tôi có xứng đáng như vậy không ? Tôi vừa bước xuống với Thầy vừa tỏ ý… trách móc. Thầy ôm vai tôi mỉm cười:

– Anh Huấn à ! Anh là đại diện của Ts.Neudeck thì tôi phải tiếp đón anh như chính Ts.Neudeck vậy. Đó là việc thông thường thôi, sao anh lại trách tôi ?

Tôi đỏ mặt tía tai như người từ trên Trời vừa rớt xuống đất và ngày càng kính phục Thầy thêm.

 

Một lần Thầy dẫn tôi vào thư phòng của Thầy trong Chùa Viên Giác. Căn phòng nhỏ chật chội vừa đủ kê một bàn làm việc chồng chất sách vở, 1 bộ trường kỷ, có dăm ba kệ sách cao ngất ngưởng quanh tường, thêm một chiếc giường vừa đủ cho một người nằm, tất cả đều sạch sẽ ngăn nắp gọn gàng. Nhìn chiếc giường mong manh như không đủ sức chịu đựng sức nặng của Thầy, tôì hỏi:

– Đây là thư phòng của Thầy, vậy Thầy ngủ ở đây luôn sao ?

Thầy chỉ quanh phòng nói:

– Anh thấy đó, giang sơn riêng của tôi vuông vức bằng đó thôi, đất nhà Chùa đâu có lớn, được vậy là… sang lắm rồi. Vừa là phòng làm việc, vừa là phòng ngủ, ấy thế mà tiện lắm anh biết không. Tôi ít ngủ lại thức rất sớm, chỉ cần một hai bước là đã đến bàn tiếp tục làm việc ngay.

Tôi đùa với Thầy:

– Thầy ở đây chỉ một mình, lại bận rộn. Mai mốt con về hưu Thầy mướn con sai vặt để con kiếm thêm tiền xài, được không Thầy ?

Thầy biết tôi đùa nên cười bảo :

– Trong Chùa chỉ làm công quả thôi, mướn anh Chùa trả không nổi đâu.

Thầy bảo tôi ngồi, cho uống trà do chính tay Thầy rót, rồi tâm tình:

– Tôi rất khâm phục giáo trình đào tạo một vị Linh Mục bên đạo Công Giáo. Vị Linh Mục nào cũng thông thái giỏi giang cả, thấp nhất cũng bắt buộc phải có trình độ đại học. Có như thế thì việc hành Đạo và truyền Đạo không những đạt được nhiều kết quả mỹ mãn, mà còn có rất nhiều thuận lợi và dễ dàng trong việc giao tiếp với Đời. Từ trước đến nay bên Phật Giáo lại ít quan tâm đến vấn đề này, nên công việc của đa số các Thầy thường bị hạn chế. Đây chính là điểm thiếu sót đáng quan tâm. Các vị Tu sĩ cần có Thánh Thiện là một đằng, nhưng cũng cần phải có học thức đi kèm song song. Tôi đã cảm nghiệm được đều này nên tôi đã và đang ra sức gởi nhiều đệ tử đi khắp nơi du học. Nhưng như thế vẫn chưa đủ, tôi còn đòi hỏi các đệ tử đi học phải đỗ đạt thật cao thì tôi mới chấp nhận, chứ đỗ đạt bình thường cũng vẫn chưa đủ. Tôi cho anh xem nhé, đây là bằng chứng cho anh thấy.

Thầy lần lượt mở tập hồ sơ cao gần một gang tay chỉ cho tôi xem. Hàng mấy chục mảnh bằng tốt nghiệp được in trên giấy cứng, tiếng Anh có, tiếng Pháp, Đức có… văn bằng thấp nhất là cử nhân, còn lại là tiến sĩ, thạc sĩ… mà hầu hết đều có điểm 1, điểm ưu hay tối ưu và không ít nơi còn ghi hàng chữ „Summa Cum Laude“ được in thật đậm. Tôi đọc một hơi không hết vì bị choáng cả đôi mắt nhưng tai vẫn còn nghe Thầy nói:

– Đấy ! Tôi nhất quyết phải làm cho bằng được ý nguyện này. Anh Huấn thấy chưa, các đệ tử của tôi phải học hành như thế đấy. Khoe với anh đó.

Thêm một điều tôi kính phục sự tinh tường và ý nguyện hành Đạo của Thầy.

 

s69-006

Trong thư phòng của Thầy Thích Như Điển

 

Tôi không nghĩ Thầy Thích Như Điển quá trầm lặng, khó tính hay quá nghiêm nghị như có người nhận xét. Không ! Thầy rất vui tính, dễ dãi, luôn nở nụ cười và nhiều khi còn… tiếu lâm. Một lần ngay giữa sân Chùa, Thầy nói đùa với tôi:

– Tiếc quá ! Vì anh là một tín đồ Công Giáo chứ nếu như anh là một Phật ử thì mình… (Thầy cười rồi bỏ lơ câu nói).

Tôi cũng cười theo đùa lại :

– Con cũng tiếc quá ! nếu Thầy là một Linh Mục thì chắc còn vui hơn nữa phải không Thầy…

Tôi biết Thầy đang nghĩ gì và Thầy cũng biết tôi đang nghĩ gì…

Hầu như lần nào có dịp đến Chùa gặp Thầy, Thầy đều rủ tôi ăn cơm chay, còn nói „cơm chay nhà Chùa“ vừa ngon lại vừa bổ, tốt cho sức khỏe. Tôi là một tín hữu Công Giáo, cũng có „ăn chay kiêng thịt“, nhưng cách ăn chay của người Công Giáo khác hẳn. Có lần chính Thầy dắt tôi vào phòng ăn ngồi cạnh Thầy cùng ăn “cơm chay nhà Chùa“. Tôi cố gắng lắm mới nuốt nhanh được vài miếng… lấy thảo, vì ăn không quen, thấy ngờ ngợ ra sao ấy. Thầy không biết nên… “cứ tưởng thật“, vừa cười vừa hỏi tôi ăn có ngon không ? Tôi cũng…“làm như thật“ ngoác miệng nói dối là… ngon quá ! Thầy vui lắm, còn bảo đệ tử đưa thêm vài món nữa. Tôi chới với, lại nói dối là vừa mới ăn ngoài quán trong sân Chùa nên no quá… nuốt không nổi nữa. Thầy bảo tôi uống nước ngọt, tôi „mừng hết lớn“, uống một hơi hai ba ly liền cho… vững bụng rồi đánh trống lảng:

– „Cơm chay nhà Chùa“ ngon thật, nhưng con thích nhất là món… “chè bà ba“ và „chè táo sọn“.

Không biết Thầy nghĩ sao, nhưng tôi nghĩ… “nói dối nhiều khi cũng có lợi, mà lắm khi còn đem đến sự thoải mái cho cả đôi bên“. Thầy với tôi cùng cười !

 

s69-007

Trong phòng ăn của Chùa Viên Giác, Hannover

 

Một lần theo Thầy dạo quanh các hàng quán trong sân Chùa, Thầy lần lượt đi thăm hỏi từng hàng quán. Chắc sắp đến giờ hành lễ nên Thầy rủ tôi theo Thầy vào Chùa niệm Phật. Tôi nói với Thầy:

– Con đâu có biết niệm Phật ra sao ?

Thầy cười bảo :

– Anh vào Nhà Thờ cầu nguyện thế nào thì vào Chùa niệm Phật cũng ý ấy mà thôi, quan trọng là cái tâm của mình. Tôi biết trong đạo Công Giáo không cho phép anh lạy Phật đâu, nhưng anh cứ vào nghe các Phật tử niệm Phật một lần xem sao đi.

Tôi cũng cười đánh trống lảng:

– Nhưng con chỉ sợ Phật không nghe lời con đâu Thầy ơi, nhiều khi Phật còn đuổi con ra khỏi Chùa luôn không chừng.

Thầy nắm tay tôi rồi nói:

– Phật không bao giờ xua đuổi ai cả đâu, cửa Chùa luôn rộng mở. Tôi thấy anh là một tín hữu Công Giáo, nhưng lại có tâm hồn của một Phật tử.

Tôi giật mình nhìn Thầy:

– Trời ! Con cám ơn Thầy, Thầy ví von hay quá !

Sau đó tôi cũng vào Chùa, lát sau ra tìm Thầy nói nho nhỏ vì sợ các Phật tử nghe:

– Thầy ơi, thú thật với Thầy, con vào Chùa nghe các Phật tử niệm thứ tiếng gì đó mà con chẳng hiểu câu nào hết trơn… nên con đi ra luôn.

Thầy vẫn tươi cười ôn tồn nói:

– Anh chịu khó vào Chùa nghe niệm Phật cũng là quý hóa lắm rồi, cám ơn anh.

 

s69-008

Trong Chính Điện Chùa Viên Giác

 

Năm 2008 tôi ghé Chùa xin Thầy cho phép kêu gọi đóng góp xây dựng Tượng Đài Tỵ Nạn tại cảng Hamburg. Sau thời gian lễ Phật trong Chính Điện do Thầy chủ trì có rất đông Phật tử đang ngồi bệt dưới đất, Thầy sai anh NX Nghiêm ra ngoài nói tôi vào Chính Điện. Anh NX Nghiêm là đàn anh của tôi trong binh chủng Không Quân VNCH trước đây và cả hai vợ chồng anh đều làm công quả trong Chùa từ hàng chục năm nay. Cả đời tôi có bao giờ dám bước vào Chính Điện của bất cứ ngôi Chùa nào đâu, nên tôi lo lắng sợ hãi chỉ đứng lấp ló bên ngoài. Thầy cầm micro kêu đích danh tôi vào, cùng lúc lại bị anh NX Nghiêm vừa đẩy, vừa lôi, vừa quát „Mày dám cãi lời Thầy hả?“. Tôi chần chừ vừa nhấc chân bước vào thì bỗng nghe anh NX Nghiêm quát:

– Ê ! Mày dám đi giày vào Chánh Điện hả ? Cởi ra cho mau !

Tôi bỡ ngỡ cúi xuống cởi giày, cong lưng, rón rén bước từ từ vào trước hàng trăm đôi mắt ngạc nhiên của các Phật tử. Tôi nghĩ „cô dâu mới về nhà chồng“ chắc còn thoải mái hơn tôi lúc này. Thầy vừa cười vừa giới thiệu tôi với các Phật tử:

– Anh Huấn đây là một tín hữu Công Giáo nhưng thích đi Chùa hơn đi Nhà Thờ, lại còn thích ăn „cơm chay nhà Chùa“ nữa, phải không anh Huấn ?

Cả Chính Điện vang tiếng vỗ tay, còn tôi…á khẩu, lùng bùng đôi tai, đứng như Trời trồng, nhưng vẫn ráng… cười duyên. Nếu vào trường hợp khác, chắc chắn tôi sẽ „ứng khẩu thành thơ“ đối đáp ngay. Nhưng hôm đó tôi không biết „múa mỏ“ ra sao vì như bị Thầy „chận họng“. Nào ngờ sẵn đà, Thầy lại „ứng khẩu thành thơ“ dùm tôi, vừa cười vừa nói tiếp:

– Bởi thế nên anh Huấn vẫn thường ngâm câu thơ như thế này :

„Con quỳ lạy Chúa trên Trời

Con lấy được vợ con thôi Nhà Thờ“

 

Đến đây thì tôi mới biết rõ từ đâu và tại sao Thầy chọc ghẹo tôi như thế.

 

Nhớ có một lần vợ tôi kể Thầy nghe rằng, đại gia đình vợ tôi đều là Phật giáo, hai bên nội ngoại đã từng hiến rất nhiều đất đai xây cất Chùa Chiền tại Cái Bè, bà mẹ vợ tôi đến nay vẫn còn ăn chay trường, thậm chí vợ tôi còn có một người chị con bà dì ruột hiện đang trụ trì một ngôi Chùa tại Pháp… Vợ tôi kể thế nào, thì Thầy chỉ nghe, chỉ biết thế ấy và chắc Thầy hoan hỉ lắm, nhiều khi còn nghĩ vợ tôi cũng đã có „Pháp Danh“ rồi không chừng…????

 

Nhưng thật ra đó chỉ là „đoạn đầu một chuyện… tình“ !

 

Còn về phần tôi, tôi đâu có dịp để kể tiếp cho Thầy nghe „đoạn kết một chuyện… tình“ rằng, khi lấy tôi thì bà vợ Cái Bè của tôi đã được học giáo lý Công Giáo, được rửa tội trong nhà thờ Công Giáo, các con cháu tôi bây giờ cũng thế và gia đình tôi không bao giờ quên đi lễ Nhà Thờ mỗi ngày Chủ Nhật. Hôm ấy – trong Chính Điện được đứng bên cạnh Thầy và trước hàng trăm Phật tử, tôi chỉ biết đứng trân trân, nào dám „đối thơ“ với Thầy. Hôm nay – nhân dịp mừng sinh nhật 65 năm, cũng là kỷ niệm 50 năm xuất gia và hành Đạo của Thầy và như một dịp may hiếm có, tôi xin „đối thơ“ với Thầy qua câu thơ mà bà vợ Nam Kỳ Cái Bè của tôi thường ngâm rằng:

„Con quỳ lậy Chúa trên Trời

Con lấy được „ổng“ con thôi Nhà Chùa“

 

Và cứ mỗi lần nghe như thế, tôi trả lời nàng ngay rằng :

„Anh vốn dĩ là con chiên… không ngoan đạo

Nếu lỡ lên Thiên Đàng thì cũng… tại vì em“

 

Tôi nghĩ Thầy sẽ không buồn, mà chắc còn… “thương“ tôi nhiều hơn khi đọc những hàng chữ này.

s69-010

Vợ chồng tôi, huynh trưởng Nguyễn Xuân Nghiêm,
Thầy Thích Như Điển, anh Lê Văn Hồng

Tôi không ngại chuyện „người đời nghĩ xuôi nghĩ ngược“, tôi cũng chẳng màng quan tâm đến những „lời đàm tiếu gần xa“. Mỗi người nhìn Đời và nhìn Việc một cách khác nhau theo đôi mắt với sự suy đoán của chính mình và tôi luôn tôn trọng điều đó. Đạo –cho dù bất cứ Đạo nào- cũng dẫn dắt con người hướng đến Chân, Thiện, Mỹ. Đạo không bao giờ làm hư Đời mà chỉ có Đời làm hư Đạo. Con Chiên Chúa làm hư Linh Mục, Phật tử làm hư Thầy… Tôi chỉ viết ra đây những tâm tình rất chân thật từ đáy lòng của cá nhân tôi nghĩ về Thầy Thích Như Điển, những gì tôi đã học được từ Thầy trong suốt thời gian qua, cách dấn thân vào Đạo, cách cư xử với Đời và sự Khiêm Nhường đáng tôn trọng của một vị Sư Tăng. Với 50 năm xuất gia và hành Đạo của Thầy, chắc chắn Thầy đã lê gót khắp chốn nhiều hơn tôi, thu thập kinh nghiệm và học hỏi được nhiều điều hay lẽ phải hơn tôi. Tôi may mắn có dịp được học lại từ Thầy, thì đó là một sự đương nhiên, việc quan trọng là người ta có muốn hay không mà thôi. Đối với tôi –một tín hữu Công Giáo- Thầy Thích Như Điển là một Tu Sĩ Phật Giáo mà tôi vẫn luôn trọng kính và ngưỡng mộ và tôi không cho rằng đó là một cái tội với Chúa… Vài người bạn Phật tử trách tôi sao không xưng Thầy là Đại Đức, là Thượng Tọa hay bây giờ là Hòa Thượng cho phải phép ? Họ nói đúng, nhưng tôi lại không thích xưng Thầy bằng các chức vị đó, chữ „Thầy“ đối với tôi vừa gần gũi hơn, vừa thân tình hơn và chữ „Thầy“ của tôi còn được xử dụng và hiểu theo ý nghĩa cho cả Đạo lẫn Đời.

 

Nguyễn Hữu Huấn

Hamburg

Bài liên quan:

No tags for this post.

Related posts

Filed in: Số đặc biệt 201

Comments are closed.